Trang chủ Tin tức Nông Nghiệp Nhật Bản: Đặc điểm, thành tựu, chính sách, hình ảnh

Nông Nghiệp Nhật Bản: Đặc điểm, thành tựu, chính sách, hình ảnh

12
0
Chia sẻ
Nông Nghiệp Nhật Bản: Đặc điểm, thành tựu, chính sách, hình ảnh
Rate this post

Nông nghiệp Nhật Bản là một trong những nền nông nghiệp phát triển bậc nhất trên thế giới. Nhiều người phải trầm trồ thán phục khi được chứng kiến những công nghệ cũng như máy móc hiện đại được áp dụng vào sản xuất nông nghiệp ở Nhật Bản.

Lịch sử ngành nông nghiệp Nhật Bản

Nông nghiệp Nhật Bản bắt đầu cùng với việc trồng lúa. Và trong số các loại cây nông nghiệp được trồng ở Nhật Bản từ thời xa xưa còn có lúa mì, lúa mạch, kê, đỗ tương, củ cải. Các nông cụ cổ nhất làm bằng gỗ hoặc đá. Khi kỹ thuật từ lục địa giúp sản xuất ra các dụng cụ bằng sắt, nông nghiệp đạt tiến bộ nhanh chóng và những vùng đất đai bị bỏ hoang suốt thời gian dài được tận dụng để canh tác.

Trước cuộc cải cách Duy Tân Minh Trị vào năm 1868, có đến 80% dân số Nhật Bản làm nông nghiệp và lúa là nông sản chính. Thời đó tại Nhật các phương pháp thâm canh cần nhiều lao động, mỗi hộ gia đình cũng chỉ có một phần diện tích ruộng hạn chế. 

Nền nông nghiệp Nhật Bản Youtube

Kể từ sau Minh Trị Duy Tân, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp và đô thị hóa đã ảnh hưởng rất lớn tới nền nông nghiệp Nhật Bản. Tỉ lệ nông dân, đất canh tác cũng như tầm quan trọng của nông nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế đều giảm đi. Ảnh hưởng bởi xu hướng đó nhiều sự kiện và tập quán trong đời sống nông thôn tại Nhật Bản bắt đầu mất đi tầm quan trọng vốn có.

Từ cuối thời Heian (794-1185), những gia đình có thế lực nổi lên ở các tỉnh và trở nên giàu có nhờ sản xuất nông nghiệp. Khi kiểm soát được chính quyền trong thời Kamakura (1185-1333), họ tỏ ra quan tâm đến nông nghiệp nhiều hơn so với giới cai trị trước đó và khuyến khích nhiều cải tiến. 

Với sự xuất hiện của nhiều thành phố và thị trấn trong thời Edo (1603-1868), tỉ lệ dân số không làm nghề nông tăng lên và các nông dân bị đòi hỏi phải sản xuất ngày càng nhiều hơn.

Hình ảnh nông nghiệp Nhật Bản
Hình ảnh nông nghiệp Nhật Bản

Nhật Bản bắt đầu bị thiếu lao động vào cuối thập niên 50, sau khi bắt đầu tăng trưởng kinh tế nhanh chóng. Nhu cầu lớn về lao động tại các trung tâm công nghiệp đô thị khiến cho ngày càng nhiều người rời bỏ nông thôn. Một phần lớn trong lực lượng làm nghề nông khi đó là những người trên 45 tuổi.

Bên cạnh đó, rất nhiều người chỉ làm nghề này theo thời vụ và hơn một nửa lực lượng lao động là phụ nữ. Xu hướng đi xuống này kéo dài cho tới tận nay. Nếu năm 1960, 26,8% lực lượng lao động là nông dân thì đến năm 1995 chỉ còn 5,1%. Năm 1965, thu nhập từ nông nghiệp của mỗi hộ gia đình nông dân còn chiếm 48% tổng thu nhập, nhưng đến năm 1996 chỉ còn là 21,1%.

Theo thống kê của Bộ nông-lâm-ngư nghiệp, tổng thu nhập bình quân mỗi năm của một hộ gia đình nông dân Nhật Bản trong năm 1996 là 6.647.400 yen, tính theo tỉ giá khi đó là vào khoảng 64.000 đôla.

Hiện tại việc canh tác hầu như được làm bằng máy. Các phương pháp canh tác truyền thống nhanh chóng nhường chỗ cho các máy cày, máy ủi và nhiều loại máy móc khác. Nhờ tất cả những yếu tố đó, tổng sản lượng gạo của Nhật Bản tăng từ 9,5 triệu tấn trong năm 1950 lên 13 triệu tấn vào năm 1975.

Diện tích nền nông nghiệp Nhật Bản

Nhật Bản với diện tích tự nhiên 378.000km2, đất nông nghiệp chỉ chiếm 14% diện tích lãnh thổ.
-Lúa gạo là cây trồng chính nhưng diện tích trồng lúa giảm: từ 2342 nghìn ha năm 1985 còn 1650 nghìn ha năm 2004

Đặc điểm nền nông nghiệp Nhật Bản

Hiện nay nền nông nghiệp của nhật bản rất phát triển khi áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, từ đó nâng cao sản lượng nông nghiệp lên vượt bậc.

Ngành nông nghiệp có vai trò thứ yếu trong nền kinh tế Nhật Bản, chiếm khoảng 0,1% trong tổng GDP của Nhật Bản.- Diện tích đất nông nghiệp ít.
– Nền nông nghiệp phát triển theo hướng thâm canh, áp dụng nhanh những tiến bộ khoa học – kĩ thuật và công nghệ hiện đại để tăng năng suất cây trồng, vật nuôi và chất lượng nông sản.
– Chi phí sản xuất cao và nền nông nghiệp chịu ảnh hưởng nhiều thiên tai nên giá nông phẩm của Nhật Bản thuộc loại cao nhất thế giới.
– Ngành trồng trọt có vị trí quan trọng trong nền nông nghiệp của Nhật Bản, chiếm hơn 80% tổng giá trị sản lượng nông nghiệp. Ngành chăn nuôi cũng tương đối phát triển.

+ Giữ vai trò thứ yếu, tỉ trọng chỉ chiếm khoảng 1%. diện tích đất ít, chỉ chiếm chưa đầy 14% lãnh thổ 
+ Phát triển theo hướng thâm canh, ứng dụng nhanh những tiến bộ KH-KT và cn hiện đại để tăng nhanh năng suất cây trồng, vật nuôi và tăng chất lượng nông sản. 
+ Trồng trọt: lúa gạo là cây trồng chính; các cây trồng phô biến: chè, thuốc lá, dâu tằm,… 
+ Chăn nuôi trương đối phát triển; vật nuôi chính: bò, lợn, gà. 
+ Sản lượng hải sản đánh bắt hàng năm cao, chủ yếu là cá thu, cá ngừ, tôm, cua,… Nghề nuôi trồng hải sản dc chú trọg phát triển. 

Chính sách phát triển nông nghiệp Nhật Bản

Phát triển khoa học-kỹ thuật nông nghiệp

Để phát triển khoa học-kỹ thuật nông nghiệp, Nhật Bản chủ yếu dựa vào các viện nghiên cứu nông nghiệp của Nhà nước và chính quyền các địa phương. Viện quốc gia về khoa học nông nghiệp được thành lập ở cấp Nhà nước là cơ quan có trách nhiệm tổng hợp gắn kết toàn bộ các viện nghiên cứu cấp ngành thành một khối. 

Tăng cường sử dụng phân hoa học; hoàn thiện công tác quản lý và kỹ thuật tưới tiêu nước cho ruộng lúa; lai tạo và đưa vào sử dụng đại trà những giống kháng bệnh, sâu rầy và chịu rét; nhanh chóng đưa sản xuất nông nghiệp sang kỹ thuật thâm canh, tăng năng suất…

Cải cách mộng đất

Để duy trì, bảo vệ những vùng đất tốt dùng cho mục đích nông nghiệp, năm 1969 Nhà nước đã ban hành Luật Cải tạo và phát triển những vùng đất có khả năng mở rộng sản xuất nông nghiệp. Đến năm 1970, Luật Đất đai nông nghiệp và Luật Hợp tác xã nông nghiệp được sửa đổi bổ sung đã nối rộng quyền hạn cho thuê, phát canh đất sản xuất nông nghiệp cũng như quyền quản lý cho các tập đoàn và các hợp tác xã (HTX) nông nghiệp. Năm 1975, Nhật Bản quyết định thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp toàn diện

Phát triển sản xuất có chọn lọc, nâng cao chất lượng nông sản

Phát triển sản xuất có chọn lọc, cụ thể là đẩy mạnh sản xuất những sản phẩm có nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng và giảm sản xuất những nông phẩm có sức tiêu thụ kém; Hoàn thiện cơ cấu nông nghiệp, kể cả việc phát triển những nông hộ và HTX có năng lực về quản lý kinh doanh và canh tác. 

Phát triển các HTX và các tổ chức kinh tế HTX dịch vụ

Hợp tác xã có vị trí rất quan trọng trong phát triển nông nghiệp ở Nhật Bản. Hầu hết những người nông dân đều là xã viên của HTX nông nghiệp.

Chính phủ rất coi trọng thể chế vận hành các HTX nông nghiệp và đã ban hành, thực hiện nhiều chính sách giúp đỡ phát triển, không ngừng mở rộng quy mô sản xuất nhằm giúp người nông dân thoát khỏi cảnh đói nghèo và cùng hội nhập vào nền kinh tế thế giới.

Chính sách hỗ trợ nông nghiệp

Về chính sách giá cả, đặc biệt chính sách trợ giá cho lúa gạo khá lớn, đã kích thích sản xuất và dẫn đến sản xuất thừa gạo. Từ năm 1970, Nhật Bản bắt đầu hạn chế mức sản xuất gạo, do vậy Nhật Bản chỉ đáp ứng được 40% nhu cầu lương thực trong nước so vối 79% của năm 1960.

Theo quan điểm an ninh lương thực là mục tiêu số một nên ngành nông nghiệp được bảo hộ rất cao. Cuối năm 1999 Nhật Bản đã đưa ra “Luật cơ bản mối về lương thực, nông nghiệp và khu vực nông thôn” vối nhiều hứa hẹn về những cải cách mới trong lĩnh vực nông nghiệp.

Thành tựu nông nghiệp Nhật Bản

Nếu năm 1960, 26,8% lực lượng lao động là nông dân thì đến năm 1995 chỉ còn 5,1%. Năm 1965, thu nhập từ nông nghiệp của mỗi hộ gia đình nông dân còn chiếm 48% tổng thu nhập, nhưng đến năm 1996 chỉ còn là 21,1%.

Theo thống kê của Bộ nông-lâm-ngư nghiệp, tổng thu nhập bình quân mỗi năm của một hộ gia đình nông dân Nhật Bản trong năm 1996 là 6.647.400 yen, tính theo tỉ giá khi đó là vào khoảng 64.000 đôla.

Hiện tại việc canh tác hầu như được làm bằng máy. Các phương pháp canh tác truyền thống nhanh chóng nhường chỗ cho các máy cày, máy ủi và nhiều loại máy móc khác. Nhờ tất cả những yếu tố đó, tổng sản lượng gạo của Nhật Bản tăng từ 9,5 triệu tấn trong năm 1950 lên 13 triệu tấn vào năm 1975.

Ngày nay người ta biết đến Ibaraki vùng phần lớn diện tích là đồng bằng, nơi có nhiều cơ sở nghiên cứu, sản xuất nông nghiệp hiện đại. Đây là địa phương sản xuất nông nghiệp lớn thứ hai ở Nhật. GDP của tỉnh đạt hơn 110 tỷ USD một năm, trong khi dân số chưa đến 3 triệu người.

Nông nghiệp Nhật Bản không sức trẻ

Giới chức Nhật Bản cảnh báo tình trạng thiếu hụt lao động do dân số già hóa đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp. Chính phủ đang khẩn trương xúc tiến các giải pháp, bao gồm nới lỏng các rào cản về nhập cư, mang lại nhiều cơ hội mới cho người nước ngoài đến làm công hay thuê đất làm nông với thu nhập cao.

Tờ Asahi Shimbun dẫn số liệu của Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản cho thấy số lao động trên cả nước giảm từ 3,12 triệu người vào năm 2007 xuống còn 1,81 triệu người vào năm 2017. Cũng trong năm ngoái, tuổi trung bình của nông dân Nhật đạt 66,6 tuổi sau nhiều năm tăng liên tục. Trong khi đó, nông nghiệp Nhật thu hút khoảng 24.000 lao động nước ngoài trong năm nay, tăng gấp 1,7 lần so với năm 2010.

Hình ảnh nông nghiệp Nhật Bản

Hình ảnh nông nghiệp Nhật Bản
Hình ảnh nông nghiệp Nhật Bản
Hình ảnh nông nghiệp Nhật Bản
Hình ảnh nông nghiệp Nhật Bản
Du học Nhật Bản ngành nông nghiệp - Ngành nông nghiệp tại Nhật
Du học Nhật Bản ngành nông nghiệp – Ngành nông nghiệp tại Nhật
Hình ảnh nông nghiệp Nhật Bản
Hình ảnh nông nghiệp Nhật Bản

tuyển kỹ sư nông nghiệp đi nhật

Tuyển kỹ sư nông nghiệp đi Nhật lương 40 triệu 2017
Tuyển kỹ sư nông nghiệp đi Nhật lương 40 triệu 2017

Trên đây là bài viết “Nông nghiệp Nhật Bản”. Hi vọng bài viết có thể cung cấp cho các bạn những thông tin bổ ích.

>>Xem thêm: Đơn hàng nông nghiệp Nhật Bản 2018

Chia sẻ

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here